Image Image Image Image Image Image Image Image Image Image
Scroll to top

Top

Đáp án môn Văn thi tốt nghiệp THPT 2020 (đợt 2)

Sáng ngày 3/9/2020, các thí sinh đã hoàn thành bài thi môn Văn trong kỳ thi tốt nghiệp THPT đợt 2. Dưới đây đáp án, thí sinh có thể tham khảo. (F5 để cập nhật đề và đáp án mới nhất).

Mục lục

1.Đề thi
2. Đáp án
3. Nhận định

1. Đề thi:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO     KỲ THI TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NĂM 2020 –ĐỢT 2 

—————–                                                                               Bài thi: NGỮ VĂN 

     ĐỀ THI CHÍNH THỨC                           Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề 

                                                                                   ———————– 

 

  1. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc đoạn trích: 

 Chỉ những ai dám tin mình có thể làm được những việc tưởng chừng bất khả thi mới thực sự cáng đáng được công việc! Trái lại, những người thiếu niềm tin thì chẳng bao giờ đạt được gì cả. Niềm tin cho ta sức mạnh để thực hiện mọi điều dù khó khăn nhất. 

 Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, niềm tin có thể giúp ta làm được nhiều việc lớn hơn cả dịch chuyển một ngọn núi. Chẳng hạn như trong thám hiểm vũ trụ, yếu tố quan trọng nhất, cũng là yếu tố cần thiết nhất, chính là niềm tin vào khả năng nhân loại có thể làm chủ được khoảng không bao la ấy. Nếu không có niềm tin vững chắc vào khả năng con người du hành trong không gian, các nhà khoa học đã không thể có đủ lòng dũng cảm, niềm đam mê và sự nhiệt tình để biến điều đó thành sự thật. Trong việc đối diện với ung thư cũng vậy, niềm tin vào khả năng chữa khỏi căn bệnh nan y này đã tạo động lực lớn lao giúp con người tìm ra nhiều phác đồ điều trị. Hoặc vào trước năm 1994, người ta bàn luận xôn xao chung quanh việc xây dựng đường hầm xuyên biển Manche nối liền nước Anh với lục địa châu Âu, dài trên 50km, với e ngại đó là một đại dự án viển vông. 

Quả thực, dự án xuyên biển Manche được khởi đầu với không ít sai lầm, nhưng cuối cùng đã thành công vào năm 1994, trở thành đường hầm dưới biển dài nhất thế giới. Chính niềm tin kiên trì là động lực quan trọng dẫn đến sự ra đời của đường hầm biển Manche, mà Hiệp hội Kỹ sư Dân dụng Mỹ gọi đó là một trong bảy kỳ quan thế giới hiện đại. 

(Trích Dám nghĩ lớn, David J.Schwartz. Ph.D, 

NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2019, tr.19-20)

Thực hiện các yêu cầu sau: 

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích. 

Câu 2. Theo đoạn trích, người ta e ngại điều gì khi xây dựng đường hầm xuyên biển Manche? 

Câu 3. Chỉ ra điểm tương đồng về cơ sở làm nên thành công trong thám hiểm vũ trụ và xây dựng đường hầm xuyên biển Manche được nêu trong đoạn trích. 

Câu 4. Anh/ Chị có đồng tình với ý kiến: “Niềm tin cho ta sức mạnh để thực hiện mọi điều dù khó khăn nhất”? Vì sao? 

  1. LÀM VĂN (7,0 điểm) 

Câu 1. (2,0 điểm) 

 Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân về sự cần thiết phải có niềm tin vào cuộc sống. 

Câu 2. (5,0 điểm) 

 Phân tích khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong kháng chiến được nhà thơ Tố Hữu thể hiện qua đoạn trích sau: 

Nhớ khi giặc đến giặc lùng 

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây. 

Núi giăng thành lũy sắt dày Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù. 

Mênh mông bốn mặt sương mù 

Đất trời ta cả chiến khu một lòng. Ai về ai có nhớ không? 

Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng 

Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng 

Nhớ từ Cao – Lạng, nhớ sang Nhị Hà… 

Những đường Việt Bắc của ta 

Đêm đêm rầm rập như là đất rung 

Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan. 

Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay. 

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày 

Đèn pha bật sáng như ngày mai lên. Tin vui chiến thắng trăm miền 

Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về 

Vui từ Đồng Tháp, An Khê 

Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng. 

(Trích Việt Bắc, Tố Hữu, Ngữ văn 12, Tập một, 

NXB Giáo dục Việt Nam, 2019, tr. 112-113)

——————-HẾT——————- 

  Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm. 

Họ, tên thí sinh: ………………….; Số báo danh: ……………………….…

Chữ ký của cán bộ coi thi 1:…………. ; Chữ ký của cán bộ coi thi 2:…….…………

 

 

2. Đáp án gợi ý:

Phần I. ĐỌC HIỂU

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận

Câu 2: Vì đó là một dự án viển vông nên người ta e ngại khi xây dựng đường hầm xuyên biển Manche.

Câu 3: Cơ sở để tạo nên thành công trong cuộc thám hiểm vũ trụ và xây dựng đường hầm xuyên biển Man che là niềm tin và sự kiên trì.

Phần II. LÀM VĂN.

Câu 1: Trình bày quan điểm của bản thân về sự cần thiết phải có niềm tin trong cuộc sống:

a, Đảm bảo yêu cầu về hình thức của đoạn văn: Thí sinh có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp song hành học móc xích.

b, Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Sự cần thiết phải có niềm tin trong cuộc sống.

c, Triển khai vấn đề cần nghị luận: 

Thí sinh cần chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách, cần làm rõ các ý sau:

– Niềm tin: Sự tin tưởng và tín nhiệm vào những điều có thể làm trong cuộc sống dựa trên cơ sở hiện thực nhất định.

– Vì sao cần có sức mạnh trong cuộc đời?

– Biểu hiện của sức mạnh và niềm tin trong cuộc đời là gì?

– Niềm tin cần dựa trên những điều thực tế, nếu tin vào điều gì đó trống rống sẽ làm chúng ta ảo tưởng vào bản thân.

– Không quá tự tin và bản thân, điều này sẽ dẫn đến sự chủ quan, đừng quá tự tin và bước sang ranh giới của sự tự kiêu, tự phụ.

d, Chính tả, ngữ pháp: Thí sinh đảm bảo chính tả và ngữ pháp chuẩn chỉnh.

e, Sáng tạo: Thí sinh thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, cách diễn đạt mới mẻ.

Câu 2: Phân tích đoạn trích khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong kháng chiến của nhà thơ Tố Hữu:

a, Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận:

Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai vấn đề, Kết bài khái quát vấn đề.

b, Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:

Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong kháng chiến.

c, Triển khai vấn để nghị luận thành các luận điểm:

Có thể khai thác theo nhiều cách, tuy nhiên thí sinh cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lý lẽ và dẫn chứng để đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau:

Giới thiệu tác giả, tác phẩm:

– Tố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam, chặng đường thơi gắn liền với chặng đường cách mạng.

– Ông có phong cách thơ trữ tình chính trị, hướng tới cái ta chung với lẽ sống lớn, tình cảm niềm vui lớn của con người và đời sống cách mạng.

– Tháng 10/1945, hiệp định Giơ-ne-vơ trung ương Đảng rời chiến khu Việt Bắc để trở về tiếp quản thủ đô Hà Nội, trong cuộc chia tay đầy lưu luyến, ông đã viết ra bài thơ Việt Bắc.

– Tác phẩm là khúc hùng ca tổng kết phong trào kháng chiến chống Pháp, là khúc tình ca thắm thiết ân tình thủy chinh, gắn bó của quân và dân Việt Bắc.

– Khái quát khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong kháng chiến.

Việt Bắc trong kháng chiến

“Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Đất trời ta cả chiến khu một lòng”

– Đại từ “ta” mang nghĩa “chúng ta” bao hàm cả người dân Việt Bắc và bộ đội, cán bộ kháng chiến, thậm chí bao hàm cả con người, thiên nhiên và trời đất khi “rừng cây núi đã ta cùng đánh tây”, khi “trời đất ta cả chiến khu một lòng”.

– Nét nghĩa này vừa thể hiện sự đoàn kết, gắn bó, làm dày thêm tầm vóc sử thi cho hình tượng nghệ thuật trong đoạn thơ.

– Sự trùng điệp của ngôn từ đã tái hiện sinh động sự trùng điệp của địa hình rừng núi, hình ảnh rừng núi “giăng” kín trong các chủ ngữ của đoạn thơ từ “rừng cây núi đá” đến “núi giăng, rừng che, rừng vây…” tất cả được bao phủ trong “mênh mông bốn mặt sương mù” của trời đất khiến người đọc cảm nhận được sự hiểm trở như thiên là địa võng của địa hình chiến khu Việt Bắc.

– Các vị ngữ “đánh, giăng, che, vây” đem đến sắc thái nhân hóa cho rừng núi, tạo cảm giác như núi rừng cũng góp sức vào cuộc kháng chiến, núi rừng cùng con người tạo nên sức mạnh to lớn, bền vững, ngăn chặn và vây hãm kẻ thù.

– Nỗi nhớ hướng tới những địa danh lịch sử:

“Ai về ai có nhớ không”

Nhớ Cao – Lạng, nhớ sang Nhị Hà…”

+ Những “nhớ” liên tiếp điệp lại trong câu thơ cho thấy nỗi nhớ hòa quyện với niềm phấn khích như trào dâng trong dòng hoài niệm về những chiến thắng, nhịp thơ dồn dập như mô tả khí thế hào hùng của nhân dân ta trong những trận đánh, các chiến dịch và các chiến thắng oanh liệt, liên tiếp, vang dội ngày kháng chiến. Hình thức xưa cũ của ca dao đã thể hiện những chiến thắng hào hùng của chiến tranh nhân dân thời hiện đại.

Việt Bắc ra trận

– Trong tám câu đầu, nhà thơ vẽ lại rất sống động hình ảnh những đêm Việt Bắc trong mùa chiến dịch. Ban ngay kẻ thù đánh phá ác liệt, tuy nhiên, ban đêm thì ưu thế thuộc về chúng ta. Hai từ “của ta” nằm cuối câu thứ nhất thể hiện rõ ý thức làm của của người kháng chiến đối với quê hương, đất nước.

+ Khí thế ra trận bừng bừng của quan ta được miên tả hết sức chân thực bằng những hình ảnh gân guốc, khỏe khoắn; bằng những từ tượng hình, tượng thanh chính xác; bằng một so sánh thoáng nhìn qua không có gì mới mẻ nhưng thực chất lại có ý vị: “Đêm đêm rầm rập như là đất rung”.

+ Nét lãng mạn trong đời sống kháng chiến cũng được nói với bằng hình ảnh vừa giàu ý nghĩa tả thực, vừa thấm đẫm tính tượng trưng: Ánh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan.

+ Tuy mô tả cảnh ban đêm nhưng bức tranh thơ của Tố Hữu lại giàu chi tiết nói về ánh sáng: ánh sáng của sao trời, của lửa đuốc, của đèn pha…Sự so sánh “Đèn pha bật sáng như ngày mai lên” tuy có vẻ cường điệu nhưng phản ánh đúng niềm phấn chấn tràn ngập trong lòng người kháng chiến.

– Ở bốn câu thơ sau, để hiện hiện không khí chiến thắng, tác giả lặp lại nhiều lần từ “vui” và đưa vào thơ một loạt địa danh thuộc cả 3 miền Bắc, Trung, Nam quyện hòa, xoắn xuýt với nhau. So với những nhà thơ khác như Quang Dũng, Hoàng Cầm, cách sử dụng địa danh của Tố Hữu vẫn có những nét riêng, độc đáo riêng.

– Khái quát nội dung và nghệ thuật của đoạn thơi.

d, Chính tả, ngữ pháp

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.

e, Sáng tạo

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

(Nguồn: Sưu tầm)

3. Nhận định từ cô Trịnh Thu Tuyết – Giáo viên môn Văn Hệ thống Giáo dục HOCMAI.

Đề thi chính thức môn Ngữ văn kì thi TNTHPT đợt 2 bám sát cấu trúc, mức độ, tính chất các câu hỏi như đề thi tham khảo lần 2 do Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố . Đồng thời, từ ngữ liệu cho đến yêu cầu của các câu lệnh trong các phần Đọc hiểu, Nghị luận xã hội và Nghị luận văn học đều tương đương với đề thi chính thức TNTHPT đợt 1 – Đây cũng là yếu tố giúp tạo nên tâm thế tương đối tích cực, đảm bảo cho các thí sinh thi đơt 2 có được cảm giác an tâm khi phải tham gia kì thi quan trọng nhất trong 12 năm học phổ thông trong điều kiện khá đặc biệt, chưa từng có.

Phần Đọc hiểu (3 điểm) Ngữ liệu vẫn là trích đoạn của 1 văn bản mang phong cách ngôn ngữ chính luận cùng dung lượng tương đương với ngữ liệu được sử dụng trong đề thi đợt 1. Nội dung cùng hướng tới những vấn đề của tư tưởng, đạo lí, nếu đợt 1 gợi ra suy nghĩ về thái độ trân trọng với cuộc sống hàng ngày thì đợt 2 chính là gửi gắm thông điệp về vai trò quan trọng của niềm tin trong cuộc sống. 4 câu hỏi đọc hiểu đã lần lượt đặt ra yêu cầu theo các mức độ của Nhận biết (câu 1;2), nhận biết kết hợp thông hiểu (câu 3), vận dụng và vận dụng cao (câu 4). Đó là các mức độ phù hợp với quá trình nhận thức của học trò, bám sát cấu trúc đề thi tham khảo và cũng là các kĩ năng mà học sinh đã được ôn luyện trong suốt năm học lớp 12.

Phần 2 – Làm văn (7,0 điểm): Giữ nguyên cấu trúc gồm 2 phần: Viết đoạn văn nghị luận xã hội (2,0 điểm) và bài nghị luận văn học (5,0 điểm). Cụ thể
Câu nghị luận xã hội vẫn yêu cầu học sinh nghị luận về 1 khía cạnh của vấn đề rút ra từ phần Đọc hiểu đó là “sự cần thiết phải có niềm tin vào cuộc sống” – vấn đề “niềm tin” và khía cạnh bàn luận “sự cần thiết phải có niềm tin” hoàn toàn không xa lạ với học trò và chắc chắn cũng đã xuất hiện trong rất nhiều bài ôn luyện của các thầy/cô trong nhiều năm học và vì thế, một mặt không làm khó cho học trò nhưng mặt khác có thể hạn chế phần nào hứng thú và khả năng sáng tạo cũng như sự phát huy cái tôi độc lập của thí sinh.

Câu 2 (5,0 điểm): Bài nghị luận văn học đặt ra yêu cầu “phân tích khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong kháng chiến” trong 22 câu thơ của phần cuối đoạn trích “Việt Bắc” – hầu như không có sự thay đổi gì về dung lượng, cảm hứng, thể loại…của ngữ liệu so với câu nghị luận văn học của đề thi đợt 1. Nếu cảm hứng về đất nước, dân tộc, cách mạng…rất phù hợp với cả 2 đợt thi của năm 2020 – một năm chẵn cho những ngày kỉ niệm lớn liên quan tới những sự kiện trọng đại của dân tộc, thì sự tương đương về dung lượng, thể loại của ngữ liệu phần nào cũng làm giảm đi tính bất ngờ vốn luôn tạo ra hứng thú cho học trò khi làm bài.

Nhìn chung, đề thi Ngữ văn trong kì thi TNTHPT 2020 đợt 2 vẫn đảm bảo đúng các yêu cầu về nội dung, hình thức của một đề thi tốt nghiệp THPT. Cũng như đợt 1, đề không khó, nhất là ngữ liệu của câu nghị luận văn học có lẽ đã được điều chỉnh cho phù hợp với thời lượng làm bài của học trò, về cơ bản làm vơi dịu được tâm thế lo lắng, cảm giác thiệt thòi của hơn 26000 thí sinh thi đợt 2; tuy nhiên cũng chính yếu tố đó cũng đã làm giảm đi tính phân loại cho đề thi và kết quả chung của kì thi, có thể sẽ đem lại cảm giác hụt hẫng cho một bộ phận học trò khao khát sự mới mẻ trong những thông điệp tư tưởng, những vấn đề bàn luận vốn luôn có khả năng mang lại hứng thú và nhu cầu suy ngẫm trong một đề thi Ngữ văn.

(Theo cô Trịnh Thu Tuyết)